Hải Minh…

  • Trần Phan

Hơn hai mươi năm mới quay lại Hải Minh. Tôi cũng không hiểu sao lại lâu đến vậy. Không phải bởi cách trở đò giang mà có lẽ bởi nó quá gần. Hình như cái gì cũng vậy, xa thấy thương gần thấy thường, dù biết đó là một sai lầm.

Hồi đó, 1996, tôi làm một tiểu luận về rong biển. Trong các chuyến thu mẫu tôi có đến đây vài lần. Đó là một làng chài nhỏ nằm yên ả dưới chân ngọn Tam Tòa. Đứng từ Quy Nhơn ngó qua thấy bức tượng Trần Hưng Đạo cùng lô xô nhà cửa.

Tôi đến Hải Minh lần này cùng gia đình, trong một chuyến đi không tính trước. Trưa thứ bảy má con Pi đi dạy về nói cuối tuần rồi đi đâu không ba. Tự nhiên tôi nhớ đến Hải Minh. Mà nhớ thì đi thôi. Đi đảo nên tôi nói má con Pi chuẩn bị kỹ lưỡng cho hai đứa nhỏ còn mình thì vào mạng tìm nhà nghỉ, book phòng. Lúc này tôi mới tá hỏa vì mọi thứ không như tôi nghĩ. Các loại hình phục vụ du lịch như ăn uống ngủ nghỉ chưa có ở đây.

Tôi vừa mừng vừa lo. Mừng vì Hải Minh vẫn còn đó vẹn nguyên một làng chài. Còn lo là không biết cả nhà sẽ xoay sở sao. Tôi dân khảo sát, tôi có thừa kinh nghiệm để có thể tồn tại nơi rừng núi hay biển giã. Nhưng những lần như thế tôi đi cùng với những người như tôi hoặc hơn, tức toàn những thần rừng. Còn lần này tôi đi với vợ con, tôi không hình dung ra phải lo cho bọn trẻ thế nào nếu không có chỗ nghỉ nghơi tươm tất.

Nhưng đời đôi khi hơn nhau ở chỗ có nhiều bạn nhậu. Tôi gọi cho một anh nhờ giúp đỡ, anh này giới thiệu tôi cho một người bà con ở Hải Minh. Tôi hỏi lại má con Pi lần nữa là đi không, má con Pi kêu đi. Thế là cả nhà, thêm cậu em, đùm túm dắt nhau giữa trưa nắng như đổ lửa.

Cảng cá Quy Nhơn còn gọi là cảng Hàm Tử. Mấy chú ghe khách hỏi đi đâu, tôi nói ra Hải Minh. Hỏi ra nhà ai tôi nói nhà Năm Tịch xóm trên như lời dặn của anh bạn, nói thêm là Năm Tịch chú thằng Hứng. Mọi người kêu ồ Năm Tịch, lên đi, ba chục ngàn, tao chở luôn tới nhà. Thuyền nổ máy, Quy Nhơn lùi dần, tôi ngồi mũi thuyền vừa canh con Pi thằng Jan vừa tận hưởng cảm giác xa công việc, xa cái bụi bặm xô bồ. Hải Minh rõ dần, từ xa tôi đã thấy những ô cửa đủ màu sắc.

Từ đây là hàng loạt bất ngờ. Khi ở cảng cá tôi cứ nghĩ là chủ ghe nói chơi, té ra là biết nhà Năm Tịch thật, lại đậu ghe ngay đầu ngõ rồi hướng dẫn mày đi như vầy như vầy. Bất ngờ thứ hai là lúc đầu tôi tưởng ba chục cho mỗi người, hóa ra là ba chục cho cả đoàn. Sự chân thật của con người nơi đây khiến tôi không còn cảm thấy lo lắng như lúc ở nhà.

Hải Minh vẫn vậy, khác chăng là người ta xây đê kè bê tông kiên cố quanh vành đai thay cho những bãi cát thoai thoải. Ghe cập thẳng vào kè chứ không phải đậu từ ngoài xa rồi đi thúng hoặc lội vào như trước đây tôi từng đi. Chúng tôi cảm ơn anh chủ ghe rồi theo những con ngách đầy cát chạy ngoằn ngoèo khắp xóm để tìm nhà chú Năm. Dọc đường tôi thấy một nhóm các chị đang đánh tứ sắc, một chú đang trét lại cái thúng chai, một hai nhà đang sửa lại ngư cụ, nắng chiều chiếu qua những tấm lưới tạo thành những ray ánh sáng rất đẹp. Pi vui ra mặt, gặp ai cũng chào, còn Jan vừa bước lên bờ đã sà vào rồi dành đồ chơi của bọn trẻ con cùng lứa.

Chú Năm đón chúng tôi không vồn vã cũng không xa lạ, nó như cái kiểu đón bọn con cháu ở xa về. Hỏi mới ra tới à, để đồ đó uống nước. Tôi thích tiếng cười của thím Năm quá. Tiếng cười thật dài, giòn và vang như tiếng nước xô liên hồi vào gành đá. Tự nhiên tôi thấy xấu hổ vì đã chuẩn bị để nói với chú thím như nào, thân sơ ra sao, để xin tá túc. Chú Năm kê bếp nướng cá rồi nói bọn bay ra biển chơi đi, nhớ về sớm không tao ăn hết ráng chịu.

Tôi đưa bọn trẻ chạy trong chiều nắng tắt. Mặt trời lặn dần sau tượng Đức Thánh Trần. Hoàng hôn nơi đây thật đẹp. Vài con thuyền cập bến, bọn học trò đi học bên phố cuối tuần theo ghe về cười nói râm ran. Những người đánh cá vác lưới đứng nhìn con nước, ngoài xa thuyền câu đêm đã lác đác đã lên đèn. Bên kia, Quy Nhơn chạy một vệt sáng dài.

Chúng tôi ngồi với chú thím Năm và hai người con của chú là hai Hoang và út Toàn, lúc sau thêm Vương tức King Nguyen, một người em của chú Năm. Cá sòng tươi nướng than, rau sống, bánh tráng, nước mắm nhĩ, bia Saigon, chuyện nghề, chuyện đời, tôi như thấy cả một Hải Minh bình yên và dâu bể.

Nhậu nửa chừng thằng Toàn rủ đi soi cua về đổi mồi nhậu tiếp. Tôi cõng thằng Jan, má nó dắt theo con Pi soi pin đi dọc bờ kè, dưới nước thằng Toàn miệng ngậm đèn soi, hai tay mang găng. Nó cứ ngó nghiêng một hồi rồi thọc xuống nước lôi lên những con cua đá to cỡ ba ngón tay chắc nịch. Mỗi lần như thế con Pi với thằng Jan lại hét lên khoái chí. Tôi cũng cố soi con đèn siêu sáng made in Japan của mình theo tay thằng Toàn chỉ nhưng tuyệt chỉ thấy ánh nước láng cháng mà không thấy con nào. Loáng cái đã được nửa xô cua. Hải Minh đầy trăng.

Sáng tôi đánh thức bọn trẻ dậy sớm để đi ngắm mặt trời lên. Chú thím Năm đã dậy từ lúc nào để nấu nước đậu kịp bán sáng. Toàn cũng lục đục chuẩn bị đón chuyến ghe sớm vô lại Quy Nhơn để đi làm. Chúng tôi được ăn món bánh xèo mực ngon nhất từ trước đến nay. Những con mực còn sống mới vớt lên từ biển được thả vào những chiếc khuôn đúc, thêm mấy lát hành tây, vài cọng hành ngò thơm nức mũi. Năm nghìn một lá, bao ghiền.

Uống cà phê với Vương và Hoang. Những chiếc bàn chông chênh bên bờ kè, dưới kia là sóng biển phả lên cái mùi mặn chát. Thuyền về tấp nập. Được uống cà phê trong buổi ban mai như thế sẽ không uổng một lần bạn đã đến nơi đây.

Ngồi một lúc lại chia tay tiếp với Hoang để nó đón xe đi Đà Nẵng, ghe nó đang đậu ngoài đó. Anh em nhậu với nhau đêm qua chỉ còn mỗi mình Vương làm hướng dẫn viên đưa chúng tôi đi thăm thú nơi này một ít nơi kia một ít. Chúng tôi leo lên tượng Đức Thánh Trần, từ đây nhìn xuống, Hải Minh đẹp như tranh vẽ. Bên kia Quy Nhơn cong như một cánh cung đang hừng lên trong nắng sớm.

Phía sau tượng có con đường nhỏ men theo núi dẫn xuống ngọn hải đăng, chúng tôi xin phép được vào chơi. Khuôn viên cơ man ổi là ổi. Tôi không biết là chúng tự mọc hay được trồng. Những cành trìu trĩu quả đương mùa chín. Trong khi Pi và Jan thỏa thê với những gốc ổi thì tôi đến với Trường Lũy. Đây là một kiến trúc cổ, một bức tường thành xếp bằng đá chạy quanh các ngọn núi. Thời điểm xây dựng Trường Lũy có nhiều tranh cãi. Nghe nói nó được khởi dựng từ thời Chăm Pa để làm tiền đồn trấn thủ con đường thủy vào đầm Thị Nại, cửa ngõ quan trọng để vào thành Đồ Bàn. Sau đó nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn thay nhau xây dựng thành tuyến phòng thủ chiến lược. Binh đao tranh bá cứ nối tiếp nhau, nhưng lịch sử dường như luôn chọn nơi đây làm cuộc huyết chiến. Xương dưới đáy Thị Nại chất cao bao nhiêu thì máu trên Trường Lũy chắc cũng nhiều như thế. Vật đổi sao dời, tang điền thương hải, tôi đứng tựa lưng vào đoạn thành còn sót lại cố nghe tiếng gươm khua trống giục nhưng chỉ có cỏ phủ lên xanh, gió cũng phai màu áo trận.

Vương lại chia tay với chúng tôi về chuẩn bị chiều quay vô Saigon làm việc. Chúng tôi cũng chia tay với chú thím Năm để về lại Quy Nhơn. Vậy là chỉ trong buổi sáng tôi đã làm bốn cuộc chia tay. Chuyến đi Hải Minh này tình cờ mà như sắp đặt. Nó không sớm hơn, cũng không muộn hơn, như một duyên lành.

Đưa con Pi xách hai chai nước mắm nhĩ thím Năm gửi làm quà. Pi nói con thích nơi này.

24/2/2019

Advertisements

Comment

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s